Cậu bé da đen nghèo đã vào đại học Harvard như thế nào

Justin Porter, một cậu bé da đen, từng là học sinh trung học của trường William B. Murrah, nơi số học sinh người Mỹ gốc Phi chiếm đến 97% và đều thuộc tầng lớp thấp trong xã hội. Vậy mà, Justin Porter vừa trải qua năm đầu đại học tại Harvard. 

Cậu đã viết về hành trình từ William B. Murrah đến ngôi trường của những gia tộc lừng danh ở Mỹ như Bush, Kennedy hay Romney. Một chặng đường của sự nỗ lực, tạo khác biệt và đầy trăn trở.

cau be

Justin Porter dạo bước trong khuôn viên ĐH Harvard

1. Harvard thực sự y hệt như giấc mơ

Hệt như những gì mà tờ rơi bóng bẩy đã hứa hẹn, ngay từ giây phút đặt chân lên khuôn viên trường Harvard vào mùa thu năm ngoái, tôi như được đến với một thế giới mới tràn đầy ánh sáng và sự hứng khởi. Tôi được thảo luận với Larry Summers về sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc khi thưởng thức vài miếng pizza, tham gia lớp Di truyền học do một trong những người đàn ông quyến rũ nhất trên tạp chí People đứng lớp (ám chỉ Keven Eggan) và ngồi hàng ghế đầu tiên ngay trước nhà văn mà tôi yêu thích, Atul Gawande, trong một cuộc trò chuyện về sự khác biệt giữa huấn luyện và giảng dạy. Nhưng có lẽ, năm nhất đại học vẫn là khoảng thời gian khó khăn nhất của cuộc đời tôi.

2. Cuộc đời tôi chỉ có tôi và mẹ

Tôi sinh ra và lớn lên cách đó 1.500 dặm trong một căn hộ nhỏ tại Jackson, Mississippi. Cuộc đời tôi chỉ có tôi và mẹ. Tôi cũng có một người cha yêu thương, nhưng cả hai đã chia tay sau khi tôi sinh ra không lâu. Kể từ đó cha tôi luôn bận rộn bởi ông là một người lái xe buýt, và rất hiếm khi tôi được gặp ông ấy trong suốt thời niên thiếu của mình. Là con một nên tôi được mẹ dành cho tất cả tình thương. Mẹ làm việc cật lực để tôi không phải đụng đến công việc.

Truyền hình, nhạc rap, thậm chí chơi bóng rổ với những đứa trẻ trong khu đối với tôi là một điều xa vời. Nó làm tôi có chút bất mãn khi đến tuổi thiếu niên nhưng tôi cũng hiểu ra và trân trọng sự hy sinh lớn lao của mẹ: mẹ đưa tôi đến thư viện mỗi chiều, phải làm nhiều công việc để cho nuôi tôi ăn học và hàng đêm kể chuyện cho tôi nghe trước giờ đi ngủ.

Vào mùa hè trước năm cuối trung học, sau khi quyết định xin vào một trường tại New England, tôi thấy có chút do dự trong nụ cười ấm áp nở trên khuôn mặt mẹ. Tôi vờ như không thấy nhưng lại không thể quên được nó. Tôi viện ra đủ lý do để ra đi: để chứng minh mình đã đủ hiểu biết, sợ phải đi theo con đường ít trở ngại nhất, và cả cảm giác thông thường của một đứa trẻ mới lớn khi bị gò bó. Nhưng những điều ấy dường như chỉ làm cho tôi giống một kẻ nông cạn và vô ơn.

3. Tôi viết về sự căng thẳng đang gia tăng giữa khoa học và nhân văn

Tuy vậy, tôi vẫn bắt đầu chuẩn bị cho việc ứng tuyển vào đại học. Hồ sơ đầu tiên dành cho Harvard và khoảng gần chục bộ khác cũng đã sẵn sàng. Tôi biết cơ hội Harvard nhận vào sẽ không dành cho mình, chính trường cấp ba của tôi cũng chẳng giúp ích được nhiều vì tư vấn viên đang phải hỗ trợ cho hàng trăm học sinh. Tôi đã đọc hàng tấn cẩm nang về việc chuẩn bị cho đại học, và một trong những bài học tôi đã rút ra từ đó là: cách nhanh nhất để huỷ hoại một bộ hồ sơ tiềm năng là bài luận văn nhàm chán đại loại như “Tôi xin được kể về lúc tôi chiến thắng trong một cuộc đua tại thị trấn”.

Thế nên tôi viết về những gì tôi tự cảm thấy về sự căng thẳng đang gia tăng giữa khoa học và nhân văn. Một vài tháng trước khi nộp hồ sơ, tôi vô cùng kinh ngạc khi nhận được từ giáo viên khó tính của tôi một nụ cười cùng một lá thư giới thiệu, đã được đặt trong một phong bì có dán tem.

Tôi tiết kiệm được một khoản tiền cho việc tư vấn vào đại học. Tôi tham gia tất cả các lớp nâng cao mà mình có thể chèn được vào thời gian biểu – 9 trong số 12 lớp của trường Murrah. Tôi còn tham gia cuộc thi khoa học cấp bang và quốc gia. Hơn thế, tôi còn nắm vai trò lãnh đạo cốt lõi với tư cách là biên tập viên báo trường, chủ tịch một nhiệm kỳ của Hội danh dự quốc gia Hoa Kỳ tại trường Murrah, lập một đội hung biện cùng với những người bạn thân nhất và dành thời gian rảnh của mình kèm cặp môn Toán, tiếng Anh cho những học sinh tiểu học và trung học cơ sở.

4. Tôi được thông báo trúng tuyển vào Đại học Harvard và tôi mắc kẹt giữa hai con đường

Sự nhiệt huyết của tôi đã được hồi đáp, tôi nhận được thông báo trúng tuyển vào Đại học Harvard chỉ trước sinh nhật đúng ba ngày. Đêm đó, sau những tin nhắn và cái ôm chúc mừng, tôi ngồi trong phòng riêng và khóc nức nở.

Tôi thấy bị mắc kẹt giữa hai con đường trước mắt. Một bên là những cơ hội vô cùng to lớn: học bổng toàn phần, cơ hội việc làm, khả năng được chu du. Nhưng tôi sẽ phải hy sinh những gì để đổi lại? Hai mẹ con tôi chưa hề ổn định về tài chính và những tháng ngày sắp tới sẽ không hề có sự thay đổi kỳ diệu nào xảy ra. Tôi lại bắt gặp cái nhìn đầy do dự của mẹ tôi hôm nào. Giống y như lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó khi chúng tôi bị đuổi khỏi nhà. Chuyện gì sẽ xảy ra với bà ấy khi tôi không có ở đây? Mẹ tôi bị sa thải vài tuần sau đó, nỗi sợ hãi của tôi tăng lên gấp bội. Cảm giác tội lỗi vây lấy tôi, đằng sau nụ cười của tôi, sự xấu hổ len lỏi trong những suy nghĩ cuả tôi.

Vài tuần cuối năm cấp ba trôi qua trong nỗi lo lắng. Nếu tôi đi, mẹ sẽ phải sống cuộc sống không đủ ăn, ngủ không đủ giấc và không còn ai lắng nghe bà kể chuyện nữa. Tôi quyết định hoãn lại việc nhập học. Mẹ bỏ ngoài tai những lời của tôi. “Việc con được vào Harvard là một thành công sáng chói của đời mẹ. Mẹ sẽ tự nguyền rủa chính mình nếu con từ bỏ nó.”

5. Tôi đã không từ bỏ!

Đầu năm nay, tôi đã đọc một bài báo về việc các trường đại học hàng đầu đang thất bại trong việc thu hút sinh viên nghèo: một nghiên cứu của trường Stanford cho kết quả chỉ 34% các học sinh giỏi trong nhóm thu nhập thấp nhất được nhận vào một trong số 238 trường đại học hàng đầu cả nước.

Tôi không tin việc tăng các gói cứu trợ tài chính, in ấn những tờ quảng cáo bắt mắt sẽ cải thiện tình hình. Vì các nhân tố thực sự cản bước chúng tôi đã trở thành mặc định, đó là sự sợ hãi khi đặt chân vào một môi trường xa lạ, cảm giác tội lỗi khi bỏ người thân ở lại một mình khổ sở với áp lực tài chính ngày một tăng, cả trách nhiệm phải đi làm để hỗ trợ bản thân và gia đình. Tôi bị xao nhãng ngay cả khi làm bài tập, tự hỏi rằng mình có vai trò gì ở nơi xa lạ này? Tôi bắt đầu nghĩ rằng: “Mình là ai mà dám tự cho bản thân thuộc về Harvard, nơi sinh ra những dòng họ lỗi lạc như Bush, Kennedy và Romney? Có lẽ mình nên yên vị tại nơi mình thuộc về, Mississipi.”

Rồi những câu hỏi lại xuất hiện: Vì sao chúng lại trở thành vấn đề, giấc mơ và động lực căn bản của mình là gì (Liệu tôi có thực sự muốn trở thành một bác sĩ?), thậm chí tôi còn xem xét cả về những vấn đề kinh tế, xã hội mà tôi đang vướng mắc (Sinh viên Harvard thường dành mùa hè sau năm nhất để chu du nước ngoài. Tôi đã bỏ qua một đợt thực tập ở Hy Lạp. Tuy việc thực tập có lương nhưng tôi không nghĩ mình đủ khả năng chi trả cho chi phí đi lại).

Trong suốt học kỳ này, tôi đã thay đổi theo cách mình chưa bao giờ nghĩ đến. Tôi nhìn sang những người bạn đồng học của tôi – một tập hợp những con người đam mê văn học, thiên tài khoa học, bậc thầy âm nhạc và thần đồng toán học – đang khiêm tốn phấn đấu để đạt đến đỉnh cao trong lĩnh vực của mình. Tôi thấy như mình được truyền cảm hứng và niềm hy vọng cho tương lai bắt đầu mơ hồ hiện ra.

Bây giờ tôi nghĩ mình đã hiểu tại sao mẹ để tôi đi. Harvard đã khiến tôi phải trưởng thành và nhìn nhận thẳng thắn vào cuộc sống, và chính bản thân. Tôi chỉ muốn nói rằng, tôi sẽ không đánh đổi những trải nghiệm ấy vì bất cứ thứ gì.

Hoàng Nam (theo The New York Times)

Từ khóa: